
Đầu tiên là nói về tư tưởng:
- Phải có hào khí, nghĩa là phải có quyết tâm luyện tập cho đến nơi đến chốn, vững vàng, tin tưởng không vì lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở.
- Phải có hào khí, nghĩa là phải có quyết tâm luyện tập cho đến nơi đến chốn, vững vàng, tin tưởng không vì lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở.
-Phải lạc quan, không lo sợ đang mang bệnh mà mọi người gọi là hiểm nghèo, phải tin tưởng rằng mình sẽ thắng bệnh do việc luyện tập Dịch Cân Kinh.
Tư thế
1) Lên không, xuống có: Trên phải không, dưới nên có. Đầu treo lơ lửng, miệng ngậm, lưng thẳng, hai cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay mềm, hai bàn tay ngửa phẩy ra phía sau. Trong khi vẫy, hậu môn phải thót, gót chân lưng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, các ngón chân bám chặt như bám trên đất trơn. Đây là những qui định cụ thể của các yêu cầu cơ bản khi tập luyện Dịch Cân Kinh.
Dựa theo yêu cầu này, khi tập vẫy tay thì từ cơ hoành trở lên (nghĩa là từ ức trở lên) phải giữ cho được trống không, buông lỏng, thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc luyện tập, xương cổ buông lỏng để có cảm giác như đầu treo lơ lửng, miệng ngậm tự nhiên (không mím môi), ngực trên buông lỏng để phổi tự nhiên. Hai cánh tay để tự nhiên giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám sát mặt đất, gót chân để phẳng lên mặt đất, bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương sống thẳng như cây gỗ. Khi vẫy tay nhớ lấy sức vẫy tay về phía sau, khi tay trả lại phía trước là do quán tính, không dùng sức đưa tay ra phía trước.
2) Trên ba dưới bảy: Là phần trên để lỏng độ ba phần khí lực, phần dưới lấy gân sức bảy phần khí lực. Vấn đề này quán triệt đầy đủ thì hiệu quả sẽ tốt.
3) Mắt có thể nhắm hoặc mở ra nhìn thẳng: Không nghĩ ngợi gì cả, chỉ nhẩm đếm lần vẫy.
Các bước tập cụ thể như sau:
a) Đứng hai bàn chân bằng khoảng cách hai vai.
b) Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, các ngón tay xoè thẳng, lòng bàn tay quay ra sau.
c) Bụng dưới thót lại, lưng thẳng. Bụng trên co lại, cố để lưng, đầu và miệng bình thường.
d) Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót sát đất, bắp chân và đùi chân căng thẳng.
e) Hai mắt nhắm hay có thể chọn một điểm đằng xa làm mục tiêu để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, luôn chú ý vào các ngón chân đang bám đất. Đùi vế bắp chân cứng. Thót hậu môn thật chặt và nhẩm đếm.
f) Dùng sức vẫy hai tay về phía sau, khi đưa tay lên phía trước phải chú ý để nó buông theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức. Tuy nhiên chân vẫn lấy gân cứng lên, hậu môn vẫn thót và co lại không lơi lả.
g) Vẫy tay từ 200, 300, 400, 500, 600, 700 lần, dần dần tăng lên tới 1,800 lần vẫy, (1,800 ước chừng 30 phút).
h) Phải có quyết tâm đều đặn tập trung vào sự luyện tập, không nôn nóng tập nhanh, tập nhiều vì dục tốc bất đạt. Nhưng cũng không tùy tiện bửa tập nhiều, bửa ít hoặc nghỉ tập, vì như vậy sẽ làm mất lòng tin trong luyện tập, khó có hiệu quả.
Bắt đầu tập luyện cũng không nên làm tổn thương các ngón chân (sau buổi tập vuốt ve các ngón chân). Nôn nóng muốn khỏi bệnh này mà dùng nhiều sức sẽ không đem lại kết quả. Có quyết tâm nhưng phải từ từ tiến dần mới đúng cách, mới kết quả tốt, nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán thì khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến "trên nhẹ, dưới nặng" là sai hỏng.
Khi đã vẫy tay đến 600 lần trở lên thường có trung tiện (đánh rắm), hắt hơi, và hai chân nhức mỏi, toát mồ hơi, mặt nóng bừng... chỉ là hiện tượng bình thường đừng lo ngại. Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với vũ trụ là "thiên khinh địa trọng" (trên nhẹ dưới nặng), đấy là qui luật sinh hợp với vũ trụ.
Một số điều cần lưu ý khi luyện tập
1) Số lần vẫy tay không dưới 800 lần. Từ 800 lần lên dần 1,800 lần (khoảng 30 phút) mới tới ngưỡng cửa của điều trị. Người bệnh nặng có thể ngồi mà vẫy tay, tuy nhiên phải nhớ thót hậu môn và bấm mười đầu ngón chân.
2) Số buổi tập: tùy theo thời gian rảnh rỗi của mọi người, tối thiểu tập 1 lần trong ngày với số lần vẫy tay nhất định.
3) Có thể tập nhiều tùy theo bệnh trạng. Có bệnh nhân nâng số vẫy tay tới 5, 6 ngàn lần trong một buổi tập. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon ngủ tốt, tiểu và đại tiện thấy điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ số lần vẫy tay khi luyện tập là thích hợp.
4) Tốc độ vẫy tay. Theo nguyên tắc thì nên chậm. Bình thường thì vẫy 1,800 lần hết 30 phút. Vẫy lúc sau hơi nhanh hơn lúc đầu một chút, khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng. Bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều hơn. Bệnh nặng thì nên vẫy hẹp vòng và chậm, bớt dùng sức. Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh mau mệt, mà chậm quá thì khơng đạt tới mục đích. Vì luyện tập là cần có mạch máu lưu thông.
5) Khi vẫy tay dùng sức nhiều hay ít (nặng hay nhẹ): Vẫy tay là môn thể dục chữa bệnh chứ không phải môn thể thao khích biệt. Đây là môn thể dục mềm dẻo, đặc điểm của nó là dụng ý không dùng sức, nhưng nếu vẫy tay nhẹ quá cũng không tốt, bởi vì bắp vai không lắc mạnh thì lưng và ngực không chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm đi. Vẫy tay không chỉ có chuyển động cánh tay mà chính yếu là chuyển động hai bắp vai. Bệnh phong thấp thì dùng sức ở mức nhẹ và vẫy tay chậm. Nói tóm lại, phần lớn tự mình nắm vững tình trạng, phân tích các triệu chứng sau khi nghe sự nhận xét của mọi người, tự mình cảm nhận sự biến chuyển trong cơ thể, nhanh nhẹn, hồng hào, tươi tỉnh hay là xấu hơn trước. Tự mình suy nghĩ rồi quyết định cách cách tập trên nguyên tắc là tập thế nào cho cảm thấy thoải mái, dễ chịu là đúng và tốt nhất. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích (ích lợi cho cơ thể), động tác mạnh là loại bỏ các chất cặn bã có hại cho cơ thể (tức bệnh tật). Lý luận này đang được nghiên cứu.
6) Khi vẫy tay về phía sau dùng sức 7 phần, khi trả tay về phía trước thuộc về quán tính còn chừng 3 phần.
7) Đếm số lần vẫy tay : Đếm không phải để nhớ mà có tác dụng làm cho đầu óc bình tỉnh, có tác dụng tốt cho não được căng thẳng và không nghĩ ngợi lung tung. Chân Âm được bồi dưỡng.
8) Hoàn cảnh khi luyện tập (nơi chốn): Không có khác biệt, ở nơi đâu cũng tập được, dĩ nhiên nơi nào có không khí trong lành và yên tỉnh vẫn tốt hơn.
9) Trước và sau khi tập: Trước khi tập, đứng bình tỉnh cho tim được thoải mái, đầu óc được yên tỉnh để chuyển hóa về sinh lý và tâm lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng thoải mái như trong môn khí công. Sau khi tập cũng phải bình tỉnh xoa bóp 10 đầu ngón tay và 10 đấu ngón chân. Người không đủ bình tỉnh nên cần chú ý đến điểm này.
10) Luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép: Sau khi tập thấy ngứa và bụng nhẹ nhàng, hơi thể điều hòa, mắt sáng, nước giải ứa ra nhiều, đại tiện dễ dàng, ăn ngon ngủ tốt, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đó là đã luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép. Sau khi tập, đại đa số thấy có phản ứng nhưng về hiệu quả thì rất khác nhau. Nguyên nhân chính là khi tập, tư thế có thích hợp với người tập hay không.
11) Khi tập cần chú ý đến các điểm sau đây: - Nửa thân trên buông lỏng (thượng hư) - Nửa thân dưới giữ chắc, căng mạnh (hạ thực) - Khi tay trả lại phía trước, không dùng sức (nhẹ) - Tay vẫy về phía sau dùng sức (nặng, mạnh) - Mỗi lần tập tăng dần số lần vẫy tay - Tâp ngày 3 buổi, kiên quyết tự chữa bệnh cho mình.
12) Sự liên quan giữa tinh thần và hiệu quả khi tập luyện: Hết lòng tin tưởng, kiên quyết tới cùng. Tập đủ số lần nhất định, tập thường xuyên thì hiệu quả rất tốt. Nếu khi tập khi nghỉ, không đủ số lần tập nhất định, trong lòng còn nghi hoặc, bị động theo dư luận, thấy phản ứng lo sợ vội bỏ tập thì nhất định không kết quả.
13) Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không? Có thể sinh bệnh do tư thế không đúng và làm sai nguyên tắc. Nhưng trong trường hợp này cũng hạn hữu không tới 1%.
14) Khi tập phải tránh đứng đầu ngọn gió cả mùa hè lẫn mùa đông.
Tóm lại, cần lưu tâm vào những điều sau:
- Khi tập, luôn luôn bám chặt các ngón chân vào mặt đất. - Thắt hoặc co hậu môn thật mạnh để giữ thế "thượng thư hạ thực". - Vẫy tay từ ít tới nhiều và phải đạt 1,800 lần mới có hiệu quả. - Khi gặp phản ứng đừng ngại, đó là diễn biến tốt, cứ tập số lần như cũ. Khi hết phản ứng hãy tăng số lần vẫy tay lên. - Giữ vững lòng tin, kiên trì quyết tâm tin tưởng, tập luyện tới cùng, chắc chắn sẽ đẩy lùi các bệnh tật ta đang mắc phải. - Luyện tập Dịch Cân Kinh không chỉ chữa khỏi bệnh mà còn là một phương pháp phòng bệnh rất hữu hiệu.


Hình ảnh: Dịch Cân Kinh phất thủ (hay còn gọi là trợ luân)
Các động tác sau đây được giữ nguyên từ đầu cho đến chấm dứt buổi Thể dục trợ luân.
- Co lưỡi: Chót lưỡi co lên chạm nướu và chân răng hàm trên.
- Răng kề răng: Rang cửa hàm trên và răng cửa hàm dưới cắn nhẹ với nhau.
- Miệng ngậm: bình thường.
- Mắt nhắm: ý nhìn thẳng vể phía trước từ điểm giữa hai chân mày còn gọi là ấn đường.
Loi ca truyền khẩu về 16 yếu lĩnh & lời khuyên lợi ích của Phất Thủ Liệu Pháp
(Trich từ tài liệu của Bs Phạm Xuân Phụng)
(Trich từ tài liệu của Bs Phạm Xuân Phụng)
Đứng vững chuyển mãi các khớp xương
Gân cốt giản ra, hơi độc tiêu
Hư thực đổi thay hơi khép mở
Khí đều tay chân trăm mạch sống
Trên ba dưới bảy có trọng tâm
Hai chân đứng vững vai trì xuống
Khử bệnh đầu nặng chân nhẹ đó
Tinh khí tràn trề thân nhẹ nhõm
Phẩy tay trị bệnh đúng nguyên nhân
Hơn cả xoa bóp và châm cứu
Khí huyết không thông nảy trăm bệnh
Khí hoà tâm bình bệnh khó sinh.
Tác dụng:
Tập Phất Thủ Liệu Pháp tác động đến các huyệt đạo:
- Bách hội
- Đại chùy
- Lao cung
- Trường cường
- Hội âm
- Dũng Tuyền
- Ấn bạch
cũng như nhâm đốc mạch và vận chuyển hoành cách mô xoa bóp các cơ quan trong tạng, phủ.
Theo tài liệu của Lương y Trần Văn Bình thì:
Luyện Dịch Cân Kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau:
- Nội trung: Tức là nâng cao khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ. Lưu thông khí huyết. Thông khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu
- Tứ trưởng tố: Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc theo luyện tập. Tứ trung tế song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh
- Ngũ tam phát: Nghĩa là 5 trung tâm của nhiệt dưới đây hoạt động mạnh hơn lúc bình thường. Đó là Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu, Lao cung: huyệt ở hai bàn tay, Dũng tuyền: huyệt ở hai gan bàn chân. Khi luyện tập, 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả, nó làm tăng cường thân thể, tiêu trừ các bệnh nan y mà ta không ngờ.
- Lục phủ minh: Đó là ruột non, ruột già, mắt, dạ dày, bong bóng, tam tiêu sẽ thông suốt, nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi nếu không bị trì trệ, ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.
Theo tài liệu Phất Thủ Liệu Pháp của Lương y Võ Hà:
Động tác hít thở phối hợp với lắc tay điều hòa và liên tục tác động vào các cơ ngực và thành bụng, nhất là cơ hoành, giúp xoa bóp các nội tạng, thúc đẩy sự vận hành khí huyết và tăng cường chức năng của các cơ quan. Nó cũng có tác dụng khai thông những bế tắc, ứ trệ trong kinh mạch hoặc tạng phủ. Những người tiêu hóa đình trệ sau khi thực hành khoảng 500-700 cái sẽ có trung tiện hoặc ợ hơi, có cảm giác dễ chịu rất rõ. Phất thủ liệu pháp là phương pháp đơn giản nhất để chữa bệnh đau dạ dày hoặc rối loạn tiêu hóa. Những trường hợp khí nghẽn, khí bế, khí uất do stress, bệnh tật hoặc do tập khí công sai lệch cũng có thể làm cho thông bằng phất thủ liệu pháp.Đối với y học truyền thống và khí công cổ đại, con người và vũ trụ đồng một thể. Con người là tiểu vũ trụ. Trời đất thuộc đại vũ trụ. Mối quan hệ giữa con người và trời đất thăng giáng, giao hòa thông qua hô hấp: "hô tiếp thìên căn, hấp tiếp địa khí". Hàng ngàn năm sau, hai nhà bác học người Pháp Jacqueline Chantereine và Camille Savoire cũng đã nghiên cứu, thí nghiệm và kết luận "vũ trụ lực nhập vào con người ở đầu và xuất ra nơi bàn chân phải, âm lực của quả đất nhập vào con người nơi chân trái để lên đến đỉnh đầu ở phía sau ót"*. Những động tác của PTLP tuy đơn giản nhưng đã trực tiếp phát huy quy luật này cho việc chữa bệnh và tăng cường nội khí.
Ở phía trên, động tác hít thở và lắc tay đã kích hoạt huyệt Bách Hội ở đỉnh đầu và Đại Chùy ở giữa hai bả vai để thu thiên khí, khai thông và tăng cường hoạt động của các đường kinh Dương. Bách hội và Đại chùy đều là những điểm giao hội của các đường kinh Dương và Mạch Đốc.Ở phía dưới, việc nhíu hậu môn và bám các đầu ngón chân xuống mặt đất kích thích hai huyệt Trường cường và Hội âm ở hai bên hậu môn và tĩnh huyệt của các đường kinh âm. Quan trọng nhất là huyệt Dũng tuyền ở giữa lòng bàn chân và Ẩn bạch ở đầu ngoài móng ngón chân cái. Động tác này có tác dụng hấp thu địa khí, khai thông và tăng cường hoạt động của các âm kinh.Theo học thuyết Kinh lạc, dương phải thường giáng và âm phải thường thăng. Vì lắc tay liên tục đến hàng ngàn cái nên khi các đường kinh dương được khai thông và đi dần xuống (Dương giáng) điểm cuối ở đầu ngón chân, chúng sẽ tự động kích hoạt những tĩnh huyệt của kinh âm, khiến các đường kinh này chạy ngược trở lên (âm thăng). Đối với các đường kinh âm cũng vậy, khi chạy đến điểm cuối ở phía trên, nó sẽ lại kích hoạt các đường kinh dương đi trở xuống và cứ thế tiếp tục luân chuyển tuần hoàn trong cơ thể. Đây chính là một biểu hiện của quy luật Cực dương sinh âm và Cực âm sinh dương. Việc nhập xuất, thăng giáng ở các huyệt vị và những đường kinh này những người luyện khí công có khí cảm tốt đều có thể thể nghiệm được. Đây có lẽ chính là con đường mà người xưa đã khám phá và từ đó xây dựng nên học thuyết kinh lạc.
Trường Cường nằm trên mạch Đốc, là nơi phát xuất chơn Hỏa, tương ứng với luồng Hỏa xà Kundalini trong hệ thống khí công Ấn độ. Hội Âm nằm trên mạch Nhâm, là điểm giao hội của các đường kinh âm và hai mạch Nhâm, Xung, là điểm thu âm khí quan trọng nhất trong khí công. Do đó mặc dù không vận khí nhưng PTLP đã tác động rất tích cực vào hai mạch Nhâm, Đốc. Y học truyền thống cho rằng mạch Đốc là chủ quản của các đường kinh Dương và mạch Nhâm là bể chứa của các đường kinh âm. Tất cả bệnh biến đều có biểu hiện trên hai đường kinh này. Nếu Nhâm, Đốc thông, trăm mạch đều thông. Vì vậy việc khai thông Nhâm, Đốc có ý nghĩa quan trọng cho việc chữa bệnh và dưỡng sinh. Phất thủ liệu pháp có tác dụng cân bằng âm dương, thuận khí, giáng hư hỏa. Theo y học cổ truyền, khí dương thường thừa mà khí âm thường thìếu. Âm hư có thể do bẩm sinh, hay quá căng thẳng, lo âu trong cuộc sống. Sự mất cân bằng đó là đầu mối của nhiều bệnh tật mà Đông y gọi chung là chứng Âm hư Hỏa vượng (hay sốt về chiều, mờ mắt, mắt đỏ, khô cổ, ù tai, đau lưng, hay lở miệng, hay ho, suyễn, viêm họng, viêm xoang mạn). Phất thủ liệu pháp có thể chữa các chứng này bằng cách kích thích các đường kinh âm để sinh âm, bồi bổ âm khí. Chính tư thế của liệu pháp cũng bảo đảm nguyên tắc thượng hư hạ thực (như thư giãn phần vai, cứng chắc phần hạ bộ, nhíu hậu môn, bám các đầu ngón chân…) - biện pháp điều trị hữu hiệu với những chứng hư hỏa. Nguyên tắc này đòi hỏi người tập luôn giữ cho phần trên của cơ thể được thư giãn về hình, hư linh về ý. Ngược lại, phần dưới phải đầy đặn, cứng chắc nhằm đưa trung tâm lực của cơ thể dồn xuống hạ tiêu. Điều này khí công gọi là khí trầm Đan Điền, đạo gia gọi là qui căn. Đối với y học cổ truyền, đó là thuận khí, giáng hư Hỏa hoặc dẫn Hỏa quy nguyên.
Phất thủ liệu pháp cũng giúp điều hòa thần kinh giao cảm. Khoa học hiện đại cho biết trên 50% bệnh tật của con người là do những cảm xúc âm tính gây ra. Chính tâm lý căng thẳng do tình chí uất ức hoặc nhịp sống quá nhanh trong một thời gian dài dễ làm thần kinh quá tải, suy nhược và rối loạn. Sự rối loạn này làm cơ thể mệt nhọc, ăn ngủ kém ngon, giảm sức đề kháng, dễ sinh bệnh tật hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đã có. Nếu tập trung tư tưởng vào nhịp lắc tay, người tập sẽ mất đi những cảm xúc khó chịu thường ngày. Đó là nguyên tắc dùng một niệm để chế vạn niệm.Theo học thuyết Paplov, khi ta gây hưng phấn ở một điểm và một vùng nhỏ thì những phần còn lại của vỏ não sẽ rơi vào trạng thái ức chế, nghỉ ngơi. Áp dụng những nguyên tắc này, việc tập trung vào lắc tay sẽ điều hòa được thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh, tự hoàn thìện vốn có của hệ thần kinh trung ương.
Theo tài liệu của Lương y Trần Văn Bình:
“Sở dĩ bệnh gan là do khí huyết tạng gan không tốt gây nên khí bị tích lũy làm cho gan khó bài tiết, do đó ảnh hưởng đến ống mật và cả tì vị. Luyện Dịch Cân Kinh có thể giải quyết được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện là hiệu quả tốt. Về bệnh mắt, luyện Dịch Cân Kinh là có thể khỏi chứng đau mắt đỏ với các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí được cả chứng đục thủy tinh thể; trong nội kinh có nói mắt nhờ huyết mà nhìn được, khi khí huyết không dẫn đến các bộ phận của mắt, do vậy sinh ra các bệnh tật do mắt. Đôi mắt là bộ phận thị giác cũng là bộ phận quan trọng của cơ thể.”
Tiêu trừ các chứng bệnh:
Theo như các tài liệu tham khảo thì luyện tập “Phất Thủ Liệu Pháp” có thể giúp tiêu trừ các chứng bệnh sau:
- Các thứ bịnh nham (ung thư)
- Huyết áp cao thấp
- Gan cứng
- Bán thân bất toại
- Huyết quản cứng
- Viêm khớp xương
- Thần kinh suy nhược
- Suy tim và thận
- Mỡ dạ dày, tiêu hóa kém
- Bổ khí, thêm huyết
Phản ứng
Tập Phất Thủ Liệu Pháp có gây phản ứng nguy hiểm gì không?(Theo tài liệu Phất Thủ Liệu Pháp của Lương y Võ Hà)
Phất thủ liệu pháp có tác dụng kích thích, xúc tiến để cơ thể tự khai thông, tự chỉnh lý; nó không vận khí, không cưỡng cầu nên hiếm khi xảy ra sai lệch. Trong quá trình tập, người tập có thể đau, tức, ngứa ngáy, co giật do việc khai mở một số huyệt vị trên đường kinh hoặc công phá một tổ chức bệnh trước khi những chỗ bế tắc này bị thải trừ hết. Thông thường, những phản ứng trên sẽ tự chấm dứt sau một vài ngày.Do không rơi vào nhập tĩnh nên khó xảy ra trường hợp người tập bị ảo giác làm rối loạn tâm lý. Phất thủ liệu pháp tác động kích thích đồng thời các huyệt bách hội, hội âm và trường cường. Do đó, bách hội và hội âm tạo ra những van an toàn để trung hòa với chân hỏa phát sinh từ trường cường, khó xảy ra trường hợp chênh lệch thái quá giữa âm và dương nên không gây nguy hiểm cho người tập.Phất thủ liệu pháp tuân thủ nguyên tắc thượng hư hạ thực và tâm ý quán chiếu Đan điền, khiến năng lượng của cơ thể không chạy lên đầu gây tổn thương cho não, không xảy ra những chứng trạng mà người ta thường gọi là tẩu hỏa nhập ma.
Trong cơ thể một người bình thường, hai mạch Nhâm, Đốc thường tách rời nhau. Ở người luyện khí công, vòm họng trên và hậu môn có khả năng trở thành những chiếc cầu nối hai mạch này lại nên được gọi là Thượng Thước Kiều và Hạ Thước Kiều. Việc đầu lưỡi chạm nướu răng trên và nhíu hậu môn vừa là một yêu cầu luyện công để tăng nội lực, vừa là một biện pháp an toàn do những động tác này nối liền hai mạch Nhâm, Đốc, tạo ra thế bình thông nhau giữa hai bể khí Âm và Dương. Sự tương thông này giúp nội khí luân lưu tuần hoàn thành vòng Tiểu châu thìên trong thân người, điều hòa giữa Âm và Dương và thông qua hai đại mạch này tăng cường và điều hòa sinh lực giữa ngủ tạng, lục phủ.
Tập Phất Thủ Liệu Pháp tác động đến các huyệt đạo:
- Bách hội
- Đại chùy
- Lao cung
- Trường cường
- Hội âm
- Dũng Tuyền
- Ấn bạch
cũng như nhâm đốc mạch và vận chuyển hoành cách mô xoa bóp các cơ quan trong tạng, phủ.
Theo tài liệu của Lương y Trần Văn Bình thì:
Luyện Dịch Cân Kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau:
- Nội trung: Tức là nâng cao khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ. Lưu thông khí huyết. Thông khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu
- Tứ trưởng tố: Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc theo luyện tập. Tứ trung tế song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh
- Ngũ tam phát: Nghĩa là 5 trung tâm của nhiệt dưới đây hoạt động mạnh hơn lúc bình thường. Đó là Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu, Lao cung: huyệt ở hai bàn tay, Dũng tuyền: huyệt ở hai gan bàn chân. Khi luyện tập, 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả, nó làm tăng cường thân thể, tiêu trừ các bệnh nan y mà ta không ngờ.
- Lục phủ minh: Đó là ruột non, ruột già, mắt, dạ dày, bong bóng, tam tiêu sẽ thông suốt, nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi nếu không bị trì trệ, ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.
Theo tài liệu Phất Thủ Liệu Pháp của Lương y Võ Hà:
Động tác hít thở phối hợp với lắc tay điều hòa và liên tục tác động vào các cơ ngực và thành bụng, nhất là cơ hoành, giúp xoa bóp các nội tạng, thúc đẩy sự vận hành khí huyết và tăng cường chức năng của các cơ quan. Nó cũng có tác dụng khai thông những bế tắc, ứ trệ trong kinh mạch hoặc tạng phủ. Những người tiêu hóa đình trệ sau khi thực hành khoảng 500-700 cái sẽ có trung tiện hoặc ợ hơi, có cảm giác dễ chịu rất rõ. Phất thủ liệu pháp là phương pháp đơn giản nhất để chữa bệnh đau dạ dày hoặc rối loạn tiêu hóa. Những trường hợp khí nghẽn, khí bế, khí uất do stress, bệnh tật hoặc do tập khí công sai lệch cũng có thể làm cho thông bằng phất thủ liệu pháp.Đối với y học truyền thống và khí công cổ đại, con người và vũ trụ đồng một thể. Con người là tiểu vũ trụ. Trời đất thuộc đại vũ trụ. Mối quan hệ giữa con người và trời đất thăng giáng, giao hòa thông qua hô hấp: "hô tiếp thìên căn, hấp tiếp địa khí". Hàng ngàn năm sau, hai nhà bác học người Pháp Jacqueline Chantereine và Camille Savoire cũng đã nghiên cứu, thí nghiệm và kết luận "vũ trụ lực nhập vào con người ở đầu và xuất ra nơi bàn chân phải, âm lực của quả đất nhập vào con người nơi chân trái để lên đến đỉnh đầu ở phía sau ót"*. Những động tác của PTLP tuy đơn giản nhưng đã trực tiếp phát huy quy luật này cho việc chữa bệnh và tăng cường nội khí.
Ở phía trên, động tác hít thở và lắc tay đã kích hoạt huyệt Bách Hội ở đỉnh đầu và Đại Chùy ở giữa hai bả vai để thu thiên khí, khai thông và tăng cường hoạt động của các đường kinh Dương. Bách hội và Đại chùy đều là những điểm giao hội của các đường kinh Dương và Mạch Đốc.Ở phía dưới, việc nhíu hậu môn và bám các đầu ngón chân xuống mặt đất kích thích hai huyệt Trường cường và Hội âm ở hai bên hậu môn và tĩnh huyệt của các đường kinh âm. Quan trọng nhất là huyệt Dũng tuyền ở giữa lòng bàn chân và Ẩn bạch ở đầu ngoài móng ngón chân cái. Động tác này có tác dụng hấp thu địa khí, khai thông và tăng cường hoạt động của các âm kinh.Theo học thuyết Kinh lạc, dương phải thường giáng và âm phải thường thăng. Vì lắc tay liên tục đến hàng ngàn cái nên khi các đường kinh dương được khai thông và đi dần xuống (Dương giáng) điểm cuối ở đầu ngón chân, chúng sẽ tự động kích hoạt những tĩnh huyệt của kinh âm, khiến các đường kinh này chạy ngược trở lên (âm thăng). Đối với các đường kinh âm cũng vậy, khi chạy đến điểm cuối ở phía trên, nó sẽ lại kích hoạt các đường kinh dương đi trở xuống và cứ thế tiếp tục luân chuyển tuần hoàn trong cơ thể. Đây chính là một biểu hiện của quy luật Cực dương sinh âm và Cực âm sinh dương. Việc nhập xuất, thăng giáng ở các huyệt vị và những đường kinh này những người luyện khí công có khí cảm tốt đều có thể thể nghiệm được. Đây có lẽ chính là con đường mà người xưa đã khám phá và từ đó xây dựng nên học thuyết kinh lạc.
Trường Cường nằm trên mạch Đốc, là nơi phát xuất chơn Hỏa, tương ứng với luồng Hỏa xà Kundalini trong hệ thống khí công Ấn độ. Hội Âm nằm trên mạch Nhâm, là điểm giao hội của các đường kinh âm và hai mạch Nhâm, Xung, là điểm thu âm khí quan trọng nhất trong khí công. Do đó mặc dù không vận khí nhưng PTLP đã tác động rất tích cực vào hai mạch Nhâm, Đốc. Y học truyền thống cho rằng mạch Đốc là chủ quản của các đường kinh Dương và mạch Nhâm là bể chứa của các đường kinh âm. Tất cả bệnh biến đều có biểu hiện trên hai đường kinh này. Nếu Nhâm, Đốc thông, trăm mạch đều thông. Vì vậy việc khai thông Nhâm, Đốc có ý nghĩa quan trọng cho việc chữa bệnh và dưỡng sinh. Phất thủ liệu pháp có tác dụng cân bằng âm dương, thuận khí, giáng hư hỏa. Theo y học cổ truyền, khí dương thường thừa mà khí âm thường thìếu. Âm hư có thể do bẩm sinh, hay quá căng thẳng, lo âu trong cuộc sống. Sự mất cân bằng đó là đầu mối của nhiều bệnh tật mà Đông y gọi chung là chứng Âm hư Hỏa vượng (hay sốt về chiều, mờ mắt, mắt đỏ, khô cổ, ù tai, đau lưng, hay lở miệng, hay ho, suyễn, viêm họng, viêm xoang mạn). Phất thủ liệu pháp có thể chữa các chứng này bằng cách kích thích các đường kinh âm để sinh âm, bồi bổ âm khí. Chính tư thế của liệu pháp cũng bảo đảm nguyên tắc thượng hư hạ thực (như thư giãn phần vai, cứng chắc phần hạ bộ, nhíu hậu môn, bám các đầu ngón chân…) - biện pháp điều trị hữu hiệu với những chứng hư hỏa. Nguyên tắc này đòi hỏi người tập luôn giữ cho phần trên của cơ thể được thư giãn về hình, hư linh về ý. Ngược lại, phần dưới phải đầy đặn, cứng chắc nhằm đưa trung tâm lực của cơ thể dồn xuống hạ tiêu. Điều này khí công gọi là khí trầm Đan Điền, đạo gia gọi là qui căn. Đối với y học cổ truyền, đó là thuận khí, giáng hư Hỏa hoặc dẫn Hỏa quy nguyên.
Phất thủ liệu pháp cũng giúp điều hòa thần kinh giao cảm. Khoa học hiện đại cho biết trên 50% bệnh tật của con người là do những cảm xúc âm tính gây ra. Chính tâm lý căng thẳng do tình chí uất ức hoặc nhịp sống quá nhanh trong một thời gian dài dễ làm thần kinh quá tải, suy nhược và rối loạn. Sự rối loạn này làm cơ thể mệt nhọc, ăn ngủ kém ngon, giảm sức đề kháng, dễ sinh bệnh tật hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đã có. Nếu tập trung tư tưởng vào nhịp lắc tay, người tập sẽ mất đi những cảm xúc khó chịu thường ngày. Đó là nguyên tắc dùng một niệm để chế vạn niệm.Theo học thuyết Paplov, khi ta gây hưng phấn ở một điểm và một vùng nhỏ thì những phần còn lại của vỏ não sẽ rơi vào trạng thái ức chế, nghỉ ngơi. Áp dụng những nguyên tắc này, việc tập trung vào lắc tay sẽ điều hòa được thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh, tự hoàn thìện vốn có của hệ thần kinh trung ương.
Theo tài liệu của Lương y Trần Văn Bình:
“Sở dĩ bệnh gan là do khí huyết tạng gan không tốt gây nên khí bị tích lũy làm cho gan khó bài tiết, do đó ảnh hưởng đến ống mật và cả tì vị. Luyện Dịch Cân Kinh có thể giải quyết được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện là hiệu quả tốt. Về bệnh mắt, luyện Dịch Cân Kinh là có thể khỏi chứng đau mắt đỏ với các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí được cả chứng đục thủy tinh thể; trong nội kinh có nói mắt nhờ huyết mà nhìn được, khi khí huyết không dẫn đến các bộ phận của mắt, do vậy sinh ra các bệnh tật do mắt. Đôi mắt là bộ phận thị giác cũng là bộ phận quan trọng của cơ thể.”
Tiêu trừ các chứng bệnh:
Theo như các tài liệu tham khảo thì luyện tập “Phất Thủ Liệu Pháp” có thể giúp tiêu trừ các chứng bệnh sau:
- Các thứ bịnh nham (ung thư)
- Huyết áp cao thấp
- Gan cứng
- Bán thân bất toại
- Huyết quản cứng
- Viêm khớp xương
- Thần kinh suy nhược
- Suy tim và thận
- Mỡ dạ dày, tiêu hóa kém
- Bổ khí, thêm huyết
Phản ứng
Tập Phất Thủ Liệu Pháp có gây phản ứng nguy hiểm gì không?(Theo tài liệu Phất Thủ Liệu Pháp của Lương y Võ Hà)
Phất thủ liệu pháp có tác dụng kích thích, xúc tiến để cơ thể tự khai thông, tự chỉnh lý; nó không vận khí, không cưỡng cầu nên hiếm khi xảy ra sai lệch. Trong quá trình tập, người tập có thể đau, tức, ngứa ngáy, co giật do việc khai mở một số huyệt vị trên đường kinh hoặc công phá một tổ chức bệnh trước khi những chỗ bế tắc này bị thải trừ hết. Thông thường, những phản ứng trên sẽ tự chấm dứt sau một vài ngày.Do không rơi vào nhập tĩnh nên khó xảy ra trường hợp người tập bị ảo giác làm rối loạn tâm lý. Phất thủ liệu pháp tác động kích thích đồng thời các huyệt bách hội, hội âm và trường cường. Do đó, bách hội và hội âm tạo ra những van an toàn để trung hòa với chân hỏa phát sinh từ trường cường, khó xảy ra trường hợp chênh lệch thái quá giữa âm và dương nên không gây nguy hiểm cho người tập.Phất thủ liệu pháp tuân thủ nguyên tắc thượng hư hạ thực và tâm ý quán chiếu Đan điền, khiến năng lượng của cơ thể không chạy lên đầu gây tổn thương cho não, không xảy ra những chứng trạng mà người ta thường gọi là tẩu hỏa nhập ma.
Trong cơ thể một người bình thường, hai mạch Nhâm, Đốc thường tách rời nhau. Ở người luyện khí công, vòm họng trên và hậu môn có khả năng trở thành những chiếc cầu nối hai mạch này lại nên được gọi là Thượng Thước Kiều và Hạ Thước Kiều. Việc đầu lưỡi chạm nướu răng trên và nhíu hậu môn vừa là một yêu cầu luyện công để tăng nội lực, vừa là một biện pháp an toàn do những động tác này nối liền hai mạch Nhâm, Đốc, tạo ra thế bình thông nhau giữa hai bể khí Âm và Dương. Sự tương thông này giúp nội khí luân lưu tuần hoàn thành vòng Tiểu châu thìên trong thân người, điều hòa giữa Âm và Dương và thông qua hai đại mạch này tăng cường và điều hòa sinh lực giữa ngủ tạng, lục phủ.
Thở bụng :
Theo khuyến cáo của các chuyên gia y tế, tập thở bụng thay cho thói quen thở ngực sẽ giúp ích cho sức khỏe rất nhiều.
Thở bụng là cách thở sinh lí và tự nhiên nhất và là bài thuốc đẩy lùi stress rất hữu ích. Bình thường khi ta thở ngực, luồng hơi ngắn nên không đủ để đẩy khí độc trong đáy phổi, và ngược lại hơi hít vào không đủ sâu để cung cấp lượng ôxy hữu ích cho phổi. Còn thở bằng bụng, cơ hoành (màng ngăn cách phần trên gồm có phổi, tim và phần dưới gồm các ngũ tạng như: gan ruột, lá lách, thận và bao tử) sẽ đi lên đi xuống như một cái bơm.
Ngoài việc đưa không khí vào phổi, động tác lên xuống của cơ hoành còn massage ngũ tạng không ngừng làm cho bộ phận này mạnh khỏe, đẩy lùi bệnh tật. Nếu mỗi lần thở, cơ hoành chỉ hạ xuống thêm 2cm là mỗi ngày ta được thêm 100 lít không khí, đồng thời cũng đẩy ra bằng đấy khí đọng.
Động tác khởi đầu là thở ra (không phải hít vào) để xả hết khí bã. Sau đó mới đến thở vào. Chú ý để lượng khí hít vào và đẩy ra tương đương nhau. Khi thở bụng nên tập trung, không suy nghĩ miên man. Cách thở đúng là khi thở ra thót bụng, thở vào phình bụng, hơi thở điều hòa, chỉ thở bằng mũi không thở bằng mồm. Việc luyện thở bụng có thể thực hiện bất cứ lúc nào và dành cho tất cả mọi người.
Cơ hoành hoạt động càng mạnh thì tim càng khỏe nên nhiều chuyên gia khí công đã đặt tên cho cơ hoành là “trái tim thứ hai”.
“Trời sinh voi ắt sinh cỏ” mà sao không gắn thêm trong cơ thể con người một trái tim nữa để phòng hờ? Ước muốn này không hẳn là siêu tưởng nếu bạn đừng quên cơ hoành - lớp cơ trơn giữ vai trò lá chắn giữa lồng ngực và xoang bụng. Một thành phần tưởng không giữ vai trò nào nổi bật trong cơ thể ấy vậy mà lại có thể trở thành đòn bẩy cho trái tim khỏe mạnh.
Trái tim thứ hai
Người tập khí công, dưỡng sinh, yoga... có điểm tương đồng trong thao tác hô hấp là khi hít vào bằng mũi thì sẽ thở ra bằng miệng, hít vào thật nhanh thì thở ra thật chậm hoặc làm ngược lại. Sở dĩ như thế là vì muốn luyện tập chức năng của cơ hoành.
Cùng với động tác hô hấp, cơ hoành lên xuống nhịp nhàng trong từng nhịp thở nhưng với cách thở thông thường thì cơ hoành không ảnh hưởng bao nhiêu trong vùng xoang ngực và xoang bụng. Khi hít thật sâu để tăng áp lực trong lồng ngực thì cơ hoành bị đẩy xuống với sức ép cao hơn bình thường và sẽ như bàn tay đưa thêm máu đến toàn bộ cơ quan khu trú trong xoang bụng.
Ngay lúc đó, nếu động tác giữ hơi thực hiện đúng kỹ thuật nữa thì cơ hoành chẳng khác nào chiếc van đóng kín để lượng máu lưu thông đến gan, thận, tụy tạng, dạ dày... kịp bàn giao dưỡng chất và tiếp nhận phế chất. Liền sau đó, động tác thở ra lại kéo cơ hoành về vị trí bình thường, qua đó giải tỏa áp lực trong xoang bụng để máu được hút từ nội tạng về tim một cách hồ hởi.
Các chuyên gia yoga ở Ấn Độ đã so sánh cơ hoành như bàn tay điêu luyện vừa xoa vừa bóp nội tạng bằng động tác lúc bơm lúc hút. Do đó, không lạ gì khi rối loạn chức năng tiêu hóa, tiết niệu là những điều xa lạ với người đã khổ công tập thở.
Cơ hoành khi được kéo lên lúc thở ra sẽ tạo áp lực trong lồng ngực để đẩy máu từ tim lên phổi đồng thời tưới máu trên thành tim, khi hạ thấp trong lúc hít vào sẽ giúp động tác co thắt của trái tim thêm nhẹ nhàng. Nói cách khác, cơ hoành hoạt động càng mạnh thì tim càng khỏe nên nhiều chuyên gia khí công đã đặt tên cho cơ hoành là “trái tim thứ hai”.
Một công đôi việc
Trên thực tế, cơ hoành không chỉ hữu ích cho tim vì nó vừa trợ lực cho trái tim và hai lá phổi vừa tiếp dưỡng khí cho đủ loại cơ quan trong xoang bụng. Người giỏi kỹ thuật hô hấp qua đó có thể tự cải thiện chức năng hô hấp do tác dụng gián tiếp trên hệ tuần hoàn. Biết cách hít thở đồng nghĩa với tối ưu hóa chức năng của não bộ, của hệ tiêu hóa, nội tiết, sinh dục... nhờ tế bào không thiếu dưỡng khí.
Để tăng cường hiệu năng của cơ hoành, người tập yoga, dưỡng sinh còn khéo hơn nữa khi kết hợp trong bài tập một số động tác để buộc cơ hoành hoạt động mạnh hơn, lâu hơn khi hít thở. Cơ hoành càng dẻo dai, tim càng đỡ mệt nhưng uổng ghê vì ai cũng có hai trái tim song thực tế ít người biết dùng.
Cách tập luyện
Muốn tập luyện cơ hoành bằng động tác hít thở, cần lưu ý một số nguyên tắc sau: Không thao tác trong vội vã, gượng ép mà hít thở đều đặn đến khi hoàn toàn sẵn sàng cho động tác hô hấp đúng nghĩa dưỡng sinh; mỗi đợt tập không cần hơn 10 phút nhưng nếu được nhiều đợt/ngày, nhất là khi vừa thức dậy, trước khi đi ngủ và ngay lúc căng thẳng tinh thần thì rất tốt; tập trong tư thế hoàn toàn thoải mái, tập trung vào động tác hô hấp rồi hít vào bằng mũi thật nhanh, thật mạnh, sau đó giữ hơi một cách bình thản trong vài giây càng tốt nhưng tuyệt đối đừng để có cảm giác nặng ngực; thở ra thật chậm, thật đều và thật nhẹ trước khi thổi phụt một hơi khi thở ra gần hết.
Muốn biết tập đúng hay không cần dựa vào các chỉ tiêu: Không đỏ mặt, không chóng mặt trong khi tập; nhịp tim sau khi tập phải trở lại như trước trong vòng 15 phút sau khi tập; không tăng huyết áp, không đau đầu sau khi tập; có thể khó ngủ trong vài ngày đầu nhưng giấc ngủ bình yên phải trở lại sau đó và ngủ ngon hơn trước.
Thở bụng là cách thở sinh lí và tự nhiên nhất và là bài thuốc đẩy lùi stress rất hữu ích. Bình thường khi ta thở ngực, luồng hơi ngắn nên không đủ để đẩy khí độc trong đáy phổi, và ngược lại hơi hít vào không đủ sâu để cung cấp lượng ôxy hữu ích cho phổi. Còn thở bằng bụng, cơ hoành (màng ngăn cách phần trên gồm có phổi, tim và phần dưới gồm các ngũ tạng như: gan ruột, lá lách, thận và bao tử) sẽ đi lên đi xuống như một cái bơm.
Ngoài việc đưa không khí vào phổi, động tác lên xuống của cơ hoành còn massage ngũ tạng không ngừng làm cho bộ phận này mạnh khỏe, đẩy lùi bệnh tật. Nếu mỗi lần thở, cơ hoành chỉ hạ xuống thêm 2cm là mỗi ngày ta được thêm 100 lít không khí, đồng thời cũng đẩy ra bằng đấy khí đọng.
Động tác khởi đầu là thở ra (không phải hít vào) để xả hết khí bã. Sau đó mới đến thở vào. Chú ý để lượng khí hít vào và đẩy ra tương đương nhau. Khi thở bụng nên tập trung, không suy nghĩ miên man. Cách thở đúng là khi thở ra thót bụng, thở vào phình bụng, hơi thở điều hòa, chỉ thở bằng mũi không thở bằng mồm. Việc luyện thở bụng có thể thực hiện bất cứ lúc nào và dành cho tất cả mọi người.
Cơ hoành hoạt động càng mạnh thì tim càng khỏe nên nhiều chuyên gia khí công đã đặt tên cho cơ hoành là “trái tim thứ hai”.
“Trời sinh voi ắt sinh cỏ” mà sao không gắn thêm trong cơ thể con người một trái tim nữa để phòng hờ? Ước muốn này không hẳn là siêu tưởng nếu bạn đừng quên cơ hoành - lớp cơ trơn giữ vai trò lá chắn giữa lồng ngực và xoang bụng. Một thành phần tưởng không giữ vai trò nào nổi bật trong cơ thể ấy vậy mà lại có thể trở thành đòn bẩy cho trái tim khỏe mạnh.
Trái tim thứ hai
Người tập khí công, dưỡng sinh, yoga... có điểm tương đồng trong thao tác hô hấp là khi hít vào bằng mũi thì sẽ thở ra bằng miệng, hít vào thật nhanh thì thở ra thật chậm hoặc làm ngược lại. Sở dĩ như thế là vì muốn luyện tập chức năng của cơ hoành.
Cùng với động tác hô hấp, cơ hoành lên xuống nhịp nhàng trong từng nhịp thở nhưng với cách thở thông thường thì cơ hoành không ảnh hưởng bao nhiêu trong vùng xoang ngực và xoang bụng. Khi hít thật sâu để tăng áp lực trong lồng ngực thì cơ hoành bị đẩy xuống với sức ép cao hơn bình thường và sẽ như bàn tay đưa thêm máu đến toàn bộ cơ quan khu trú trong xoang bụng.
Ngay lúc đó, nếu động tác giữ hơi thực hiện đúng kỹ thuật nữa thì cơ hoành chẳng khác nào chiếc van đóng kín để lượng máu lưu thông đến gan, thận, tụy tạng, dạ dày... kịp bàn giao dưỡng chất và tiếp nhận phế chất. Liền sau đó, động tác thở ra lại kéo cơ hoành về vị trí bình thường, qua đó giải tỏa áp lực trong xoang bụng để máu được hút từ nội tạng về tim một cách hồ hởi.
Các chuyên gia yoga ở Ấn Độ đã so sánh cơ hoành như bàn tay điêu luyện vừa xoa vừa bóp nội tạng bằng động tác lúc bơm lúc hút. Do đó, không lạ gì khi rối loạn chức năng tiêu hóa, tiết niệu là những điều xa lạ với người đã khổ công tập thở.
Cơ hoành khi được kéo lên lúc thở ra sẽ tạo áp lực trong lồng ngực để đẩy máu từ tim lên phổi đồng thời tưới máu trên thành tim, khi hạ thấp trong lúc hít vào sẽ giúp động tác co thắt của trái tim thêm nhẹ nhàng. Nói cách khác, cơ hoành hoạt động càng mạnh thì tim càng khỏe nên nhiều chuyên gia khí công đã đặt tên cho cơ hoành là “trái tim thứ hai”.
Một công đôi việc
Trên thực tế, cơ hoành không chỉ hữu ích cho tim vì nó vừa trợ lực cho trái tim và hai lá phổi vừa tiếp dưỡng khí cho đủ loại cơ quan trong xoang bụng. Người giỏi kỹ thuật hô hấp qua đó có thể tự cải thiện chức năng hô hấp do tác dụng gián tiếp trên hệ tuần hoàn. Biết cách hít thở đồng nghĩa với tối ưu hóa chức năng của não bộ, của hệ tiêu hóa, nội tiết, sinh dục... nhờ tế bào không thiếu dưỡng khí.
Để tăng cường hiệu năng của cơ hoành, người tập yoga, dưỡng sinh còn khéo hơn nữa khi kết hợp trong bài tập một số động tác để buộc cơ hoành hoạt động mạnh hơn, lâu hơn khi hít thở. Cơ hoành càng dẻo dai, tim càng đỡ mệt nhưng uổng ghê vì ai cũng có hai trái tim song thực tế ít người biết dùng.
Cách tập luyện
Muốn tập luyện cơ hoành bằng động tác hít thở, cần lưu ý một số nguyên tắc sau: Không thao tác trong vội vã, gượng ép mà hít thở đều đặn đến khi hoàn toàn sẵn sàng cho động tác hô hấp đúng nghĩa dưỡng sinh; mỗi đợt tập không cần hơn 10 phút nhưng nếu được nhiều đợt/ngày, nhất là khi vừa thức dậy, trước khi đi ngủ và ngay lúc căng thẳng tinh thần thì rất tốt; tập trong tư thế hoàn toàn thoải mái, tập trung vào động tác hô hấp rồi hít vào bằng mũi thật nhanh, thật mạnh, sau đó giữ hơi một cách bình thản trong vài giây càng tốt nhưng tuyệt đối đừng để có cảm giác nặng ngực; thở ra thật chậm, thật đều và thật nhẹ trước khi thổi phụt một hơi khi thở ra gần hết.
Muốn biết tập đúng hay không cần dựa vào các chỉ tiêu: Không đỏ mặt, không chóng mặt trong khi tập; nhịp tim sau khi tập phải trở lại như trước trong vòng 15 phút sau khi tập; không tăng huyết áp, không đau đầu sau khi tập; có thể khó ngủ trong vài ngày đầu nhưng giấc ngủ bình yên phải trở lại sau đó và ngủ ngon hơn trước.
-------------
Hàng ngày tôi bỏ ra 30 phút vào sáng sớm để tập luyện:
-Thức dậy 6h, uống một cốc nước (cỡ nửa vại bia keke).
-Đứng vẫy tay ~15 phút (~1000 cái).
-Đứng trung bình tấn ~3 phút.
-Đứng thẳng tay để xuôi theo thân nhún kiễng chân khoảng 300 cái ~ 5 phút (cái này nên tập từ từ nếu thấy hơi mỏi và căng chân thì dừng, sẽ hơi đau bắp chân nếu mới tập, động tác này rất tốt cho người yếu, có tác dụng luyện gân chân rất tốt).
-Khởi động các khớp gối, cổ chân, hông, đứng thẳng cúi gập lưng tay chạm ngón chân 10 cái ~3 phút (tác dụng tập cơ lưng và xương sống, ngoài ra động tác cúi đưa máu lên não cũng chữa được các bệnh đau đầu).
-Ngồi thở bụng sau đó xoa bóp cơ thể cho máu lưu thông ~10 phút
Sau đó vệ sinh cá nhân và tắm nước lạnh, ăn sáng rồi đưa con đi học và đi làm, thấy người khỏe mạnh nhanh nhẹn lắm, cân nặng duy trì mức 61kg, uống bia bét nhè không bị lên bụng :-) ...
@ Huy: Nếu Huy không có nhiều thời gian thì vẫy tay thôi cũng được, 15 phút là tầm 1000 cái đấy, ban đầu vẫy 200-300 cái rồi tăng dần lên nhé.
@ Hỏa Ngọc Anh: Bí quyết tập đều rất đơn giản 1) tốn ít thời gian, động tác đơn giản nhẹ nhàng dễ thực hiện ở mọi nơi mọi chỗ không phụ thuộc thời tiết. 2) Tác dụng rõ rệt: sau khi tập vẫy tầm 600-700 cái (trong một lần tập) sẽ thấy tác dụng ngay, dễ nhận thấy nhất là giảm vòng bụng và tiêu hóa cực tốt, chân tay khỏe mạnh hơn.
Tôi có một anh bạn tập chạy kết hợp mặc áo mưa mà không giảm cân đáng kể, sau khi tập môn này 1 tháng đã thấy tác dụng rõ rệt và hiện tập rất chăm chỉ, đơn giản vì người ta thấy rất tác dụng và thực hiện dễ dàng, nếu tập quá ít không thấy tác dụng sẽ chóng nản.
Chúc các bạn thành công.
-Thức dậy 6h, uống một cốc nước (cỡ nửa vại bia keke).
-Đứng vẫy tay ~15 phút (~1000 cái).
-Đứng trung bình tấn ~3 phút.
-Đứng thẳng tay để xuôi theo thân nhún kiễng chân khoảng 300 cái ~ 5 phút (cái này nên tập từ từ nếu thấy hơi mỏi và căng chân thì dừng, sẽ hơi đau bắp chân nếu mới tập, động tác này rất tốt cho người yếu, có tác dụng luyện gân chân rất tốt).
-Khởi động các khớp gối, cổ chân, hông, đứng thẳng cúi gập lưng tay chạm ngón chân 10 cái ~3 phút (tác dụng tập cơ lưng và xương sống, ngoài ra động tác cúi đưa máu lên não cũng chữa được các bệnh đau đầu).
-Ngồi thở bụng sau đó xoa bóp cơ thể cho máu lưu thông ~10 phút
Sau đó vệ sinh cá nhân và tắm nước lạnh, ăn sáng rồi đưa con đi học và đi làm, thấy người khỏe mạnh nhanh nhẹn lắm, cân nặng duy trì mức 61kg, uống bia bét nhè không bị lên bụng :-) ...
@ Huy: Nếu Huy không có nhiều thời gian thì vẫy tay thôi cũng được, 15 phút là tầm 1000 cái đấy, ban đầu vẫy 200-300 cái rồi tăng dần lên nhé.
@ Hỏa Ngọc Anh: Bí quyết tập đều rất đơn giản 1) tốn ít thời gian, động tác đơn giản nhẹ nhàng dễ thực hiện ở mọi nơi mọi chỗ không phụ thuộc thời tiết. 2) Tác dụng rõ rệt: sau khi tập vẫy tầm 600-700 cái (trong một lần tập) sẽ thấy tác dụng ngay, dễ nhận thấy nhất là giảm vòng bụng và tiêu hóa cực tốt, chân tay khỏe mạnh hơn.
Tôi có một anh bạn tập chạy kết hợp mặc áo mưa mà không giảm cân đáng kể, sau khi tập môn này 1 tháng đã thấy tác dụng rõ rệt và hiện tập rất chăm chỉ, đơn giản vì người ta thấy rất tác dụng và thực hiện dễ dàng, nếu tập quá ít không thấy tác dụng sẽ chóng nản.
Chúc các bạn thành công.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét